* Website đang xây dựng, CHƯA CHÍNH THỨC sử dụng. Tin tức, bài viết, sản phẩm chỉ đăng làm mẫu!
* CẦN MUA TÊN MIỀN "THOIVU.CONGTYXULYNUOCTHAI.NET", vui lòng liên hệ 0908 744 256 - 0917 212 969 (Mr. Thanh)

* Cho thuê lao động sản xuất: 0981.293.005 - 0969.786.635

Giới thiệu dịch vụ cho thuê lao động thời vụ của chúng tôi

Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, mở cửa thị trường, các doanh nghiệp sẽ có thêm nhiều cơ hội kinh doanh hơn. Tuy nhiên, họ cũng phải nỗ lực để tồn tại trong thị trường cạnh trường khốc liệt bằng cách tối đa hóa lợi nhuận.

Xu hướng tuyển dụng và quản lý nguồn nhân lực truyền thống dần dần bị loại bỏ. Dịch vụ cho thuê lao động thời vụ là giải pháp tối ưu cho các doanh nghiệp trong xu hướng hiện nay, giảm thiểu các rủi ro có thể gặp phải trong hoạt động kinh doanh trong đó có giải pháp “tiết kiệm chi phí về nhân sự”.

Đối với doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với doanh nghiệp trong nước phải bảo đảm các điều kiện sau đây:
 
a) Phải là doanh nghiệp chuyên kinh doanh cho thuê lại lao động, có vốn và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp từ 10.000.000.000 đồng trở lên;
b) Đã có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lại lao động từ 05 năm trở lên;
c) Có giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại chứng nhận doanh nghiệp và người đại diện phần vốn góp của doanh nghiệp chưa có hành vi vi phạm pháp luật nước sở tại hoặc pháp luật của nước có liên quan.
 
Tuy nhiên, hiện nay Nghị định 55/2013/NĐ-CP đã hết hiệu lực và được thay thế bởi Nghị định 29/2019/NĐ-CP. Nghị định mới này không có quy định về nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.
 
Do đó, có thể nói rằng, luật chuyên ngành của Việt nam hiện tại cũng không có bất kỳ quy định nào đề cập tới khả năng của nhà đầu tư nước ngoài kinh doanh trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.
 
Do Hiệp định tự do thương mại đa phương không có quy định, Luật chuyên ngành không có quy định, nên Nhà đầu tư nước ngoài phải kiểm tra Hiệp định thương mại song phương giữa Việt nam và Quốc gia mà nhà đầu tư có quốc tịch. Trong trường hợp Hiệp định song phương đó quy định về việc mở cửa thì nhà đầu tư có thể tham gia thành lập và hoạt động trong lĩnh vực cho thuê lại lao động.



Điều 5 Nghị định 29/2019/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Khoản 3 Điều 54 Bộ luật lao động về việc cấp phép hoạt động cho thuê lại lao động, việc ký quỹ và danh mục công việc được thực hiện cho thuê lại lao động có hiệu lực từ ngày 05 tháng 5 năm 2019 quy định điều kiện cấp giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động như sau:

1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp thực hiện hoạt động cho thuê lại lao động phải bảo đảm điều kiện:

a) Là người quản lý doanh nghiệp.

b) Không có án tích.

c) Đã làm việc trong lĩnh vực cho thuê lại lao động hoặc cung ứng lao động từ đủ 03 năm (36 tháng) trở lên trong thời hạn 05 năm liền kề trước khi đề nghị cấp giấy phép.

2. Doanh nghiệp đã thực hiện ký quỹ 2.000.000.000 đồng (hai tỉ Việt Nam đồng) tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.

Điều 21 Nghị định 29/2019/NĐ-CP quy định các trường hợp không được cho thuê lại lao động như sau:

1. Doanh nghiệp cho thuê hoặc bên thuê lại lao động đang xảy ra tranh chấp lao động, đình công hoặc cho thuê lại lao động để thay thế người lao động đang trong thời gian thực hiện quyền đình công, giải quyết tranh chấp lao động.

2. Doanh nghiệp cho thuê không thỏa thuận cụ thể về trách nhiệm bồi thường tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp của người lao động thuê lại với bên thuê lại lao động.

3. Không có sự đồng ý của người lao động thuê lại.

4. Thay thế người lao động bị cho thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp hoặc vì lý do kinh tế.

Như vậy, doanh nghiệp được cấp giấy phép giấy phép hoạt động cho thuê lại lao động khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định nêu trên.

“Hợp đồng lao động” thời vụ là sự thỏa thuận giữa “Người Lao Động” và “Người sử dụng lao động” về việc làm có trả lương theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có tính chất không thường xuyên, có thời hạn dưới 12 tháng, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.

“Người sử dụng lao động” được phép ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ trong các trường hợp sau:

“Hợp đồng lao động” thời vụ được ký kết trong trường hợp giao kết công việc giữa “Người sử dụng lao động” và “người lao động” là công việc có tính chất tạm thời, không thường xuyên, hoặc công việc có thể hoàn thành trong thời hạn 12 tháng.

Không được giao kết “Hợp đồng lao động” theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng để làm những công việc có tính chất thường xuyên từ 12 tháng trở lên, trừ trường hợp phải tạm thời thay thế người lao động đi nghĩa vụ quân sự, nghỉ theo chế độ thai sản, ốm đau, tai nạn lao động hoặc nghỉ việc có tính chất tạm thời khác.



Trường hợp vị phạm, “Người sử dụng lao động” sẽ bị xử phạt hành chính từ 500.000 – 20.000.000 đồng tùy theo số lượng “Người Lao Động” mà họ vi phạm theo Khoản 1 Điều 5 Nghị định 95/2013/NĐ-CP.

“Người Lao Động” ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ được hưởng quyền lợi như thế nào.

Khi ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ, “Người sử dụng lao động” phải đảm bảo các quyền lợi sau đây cho “Người Lao Động”:

Được tham gia BHXH, BHYT, BHTN nếu hợp đồng lao động từ đủ 1 tháng trở lên

Được trả tiền BHXH, BHYT, BHTN và phép năm vào lương theo K3, Điều 186 Bộ Luật Lao động nếu Hợp đồng lao động dưới 1 tháng.

Được bảo vệ quyền lợi chính đáng như không bị đuổi việc vô cớ, được trả lương đúng hạn,riêng với lao động nữ được hưởng chế độ thai sản, được nghỉ ngơi trong thời gian hành kinh…. theo quy định pháp luật lao động.

Ngoài ra, khi có xảy ra tranh chấp giữa “Người sử dụng lao động” và “người lao động” thì “người lao động” có cơ sở để Tòa án giải quyết quyền lợi cho “người lao động”.

Trường hợp đã ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ 02 lần thì có được phép ký tiếp “Hợp đồng lao động” thời vụ không?

Pháp luật lao động chưa hạn chế số lần ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, công việc được giao kết “Hợp đồng lao động” thời vụ phải là công việc có tính chất tạm thời, không thường xuyên. Do đó, việc ký liên tục nhiều hợp đồng thờ vụ thì có thể được xem là công việc này đã mang tính thường xuyên rồi, Do đó, để giải thích rõ trường hợp này, chúng ta chia hai trườn hợp như sau:

- Nếu công ty ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, sau khi hết hạn “Hợp đồng lao động” này, 02 bên (“Người sử dụng lao động” và “người lao động”) chấm dứt “Hợp đồng lao động”. Sau một thời gian, công ty lại ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, thì việc ký kết “Hợp đồng lao động” này vẫn đúng quy định pháp luật vì công việc đó mang tính chất thời vụ. Và như vậy, việc ký kết “Hợp đồng lao động” như vậy là đúng quy định, không phụ thuộc vào số lần ký kết.

- Nếu công ty ký “Hợp đồng lao động” thời vụ, sau khi hết hạn “Hợp đồng lao động” này, 02 bên (“Người sử dụng lao động” và “người lao động”) lại tiếp tục ký kết “Hợp đồng lao động” thời vụ thì như vậy, rõ ràng công việc này không mang tính chất thời vụ nữa, việc ký kết này vi phạm quy định của Bộ luật lao động 2013.

- Bộ Luật lao động cũng có quy định là nếu đã ký 2 hợp đồng có xác định thời hạn thì hợp đồng thứ 3 phải ký không xác định thời hạn.

Sử dụng dịch vụ Cho Thuê Lại Lao Động: được hiểu là khi có nhu cầu về nhân sự, quý công ty sử dụng dịch vụ cung ứng lao động thuê ngoài để người lao động của công ty thuê ngoài thực hiện, nó gồm gất nhiều các dịch vụ khác nhau như Dịch vụ Cho

Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp

Hiện nay, các công ty, doanh nghiệp cũng như các cơ sở sản xuất cần đến đội ngũ lao động có trình độ, lao động phổ thông, làm thời vụ hoặc dài hạn để đáp ứng được yêu cầu gia tăng về khối lượng đơn hàng. Tuy nhiên, chỉ trong một thời gian ngắn, để có thể tuyển dụng được nguồn nhân lực đáp ứng được những yêu cầu cơ bản như mong muốn là việc không hề dễ dàng đối với các doanh nghiệp. Cung ứng và cho thuê lao động phổ thông ngắn hạn, dài hạn, có tay nghề trong nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất hàng hóa, lắp ráp linh kiện điện - điện tử - nhựa, chế biến thực phẩm, may mặc, dày da, gia công và chế biến gỗ, đóng gói và bốc xếp hàng hóa,....
SEO từ khóa Website cũng làm cho hoạt động SEO của bạn trở nên thuận lợi, Một trong các cách SEO từ khóa hiệu quả đó chính là bạn thực hiện SEO ảnh và video. Cụ thể là trong các hình ảnh và video post lên website, bạn nên ghi chú
SEO online là gì Chính vì vậy, việc đầu tư vào Seo là một hành động khôn ngoan, Sẽ giúp bạn xây dựng hình ảnh thương hiệu, giá trị của sản phẩm, dịch vụ đến với khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp.

Một số vấn đề pháp lý cần lưu ý trong trường hợp người sử dụng lao động giao kết hợp đồng với người đại diện của nhóm người lao động:

Nếu giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ với các nhóm người lao động, người sử dụng lao động có thể ký với người đại diện của nhóm (không bắt buộc phải ký với toàn bộ người lao động). Hợp đồng lao động mùa vụ (hay hợp đồng thuê khoán nhân công) do người đại diện xác lập, thực hiện với người sử dụng lao động phù hợp với phạm vi đại diện sẽ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ đối với người được đại diện.
Đồng thời, người sử dụng lao động cần lưu ý các vấn đề sau (Điều 18 Bộ luật Lao động năm 2012):

Một là, việc giao kết hợp đồng với nhóm người lao động chỉ thực hiện đối với những công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng và phải thể hiện bằng văn bản.

Hai là, người đại diện theo ủy quyền của nhóm người lao động phải là người đã thành niên, từ 18 tuổi trở lên.

Ba là, hợp đồng giao kết với người đại diện nhóm người lao động phải kèm theo danh sách ghi rõ họ tên, tuổi, giới tính, địa chỉ thường trú, nghề nghiệp và chữ ký của từng người lao động trong nhóm.

Nhiều trường hợp người sử dụng lao động không thuê lao động theo hình thức hợp đồng lao động, mà ký hợp đồng giao khoán nhân công. Đối với trường hợp hợpđồng giao khoán nhân công, người sử dụng lao động có quyền giao kết hợp đồng với từng người lao động hoặc người được nhóm người lao động ủy quyền giao kết hợp đồng lao động.

Về mặt nguyên tắc, tất cả các loại hợp đồng đều được soạn thảo theo quy định của pháp luật dân sự. Đối với khái niệm "hợp đồng giao khoán" hay "khoán việc" thì lại không được quy định cụ thể theo quy định pháp luật lao động. Bộ Luật Lao động 2012 lại không có khái niệm về loại hợp này và chỉ có quy định về hình thức trả lương theo hợp đồng lao động (Khoản 1 Điều 94).Do đó, về mặt hình thức, hợp đồng giao khoán hay hợp đồng khoán việc không đáp ứng tiêu chuẩn của một hợp đồng lao động mà chỉ là một loại hợp đồng dân sự.
Hợp đồng giao khoán nhân công có thể được thực hiện ở các dạng sau:



Dạng 1: Doanh nghiệp ký hợp đồng giao khoán nhân công với từng người lao động.

Dạng 2: Doanh nghiệp ký hợp đồng giao khoán nhân công với một nhóm người lao động (Hợp đồng được ký với tất cả thành viên trong nhóm nhưng có một người đại diện nhóm và được các cá nhân trong nhóm ủy quyền cho người đại diện thực hiện các giao dịch với doanh nghiệp). Trong trường hợp này, người đại diện của nhóm sẽ là người cung cấp danh sách nhân sự cho doanh nghiệp.

Dạng 3: Doanh nghiệp ký hợp đồng giao khoán với chỉ một người đại diện (Người này có trách nhiệm tìm kiếm lao động để thực hiện các công việc trong hợp đồng giao khoán. Doanh nghiệp không cần danh sách những cá nhân lao động trong nhóm). Trường hợp này người đại diện nhóm như một cá nhân kinh doanh.
Quy định về việc tính thuế thu nhập cá nhân đối với người sử dụng lao động giao kết hợp đồng thuê khoán nhân công:

Dạng 1: Theo biểu thuế toàn phần 10% trên thu nhập và không được giảm trừ.

Dạng 2: Trước khi trả tổng lương của nhóm cho người đại diện nhóm, kế toán phải thực hiện khấu trừ thuế TNCN theo biểu toàn phần 10%.

Dạng 3: Theo quy định tại điểm 1 khoản 1 Điều 2 Thông tư số 92/2015/TT-BTC quy định về nguyên tắc tính thuế với cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán như sau:“(a) Cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán (sau đây gọi là cá nhân nộp thuế khoán) là cá nhân kinh doanh có phát sinh doanh thu từ kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc tất cả các lĩnh vực, ngành nghề sản xuất, kinh doanh trừ cá nhân kinh doanh hướng dẫn tại Điều 3, Điều 4 và Điều 5 Thông tư này. (b) Đối với cá nhân nộp thuế khoán thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của năm... (c) Trường hợp cá nhân kinh doanh theo hình thức nhóm cá nhân, hộ gia đình thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định cho một (01) người đại diện duy nhất trong năm tính thuế”(điểm 1 khoản 1 Điều 2).



Căn cứ tính thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 2 Thông tư số 92/2015/TT-BTC, như sau:“(a) Doanh thu tính thuế: (a.1) Doanh thu tính thuế là doanh thu bao gồm thuế (trường hợp thuộc diện chịu thuế) của toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền hoa hồng, tiền cung ứng dịch vụ phát sinh trong kỳ tính thuế từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ. Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán có sử dụng hoá đơn của cơ quan thuế thì doanh thu tính thuế được căn cứ theo doanh thu khoán và doanh thu trên hoá đơn. (a.2) Trường hợp cá nhân kinh doanh không xác định được doanh thu tính thuế khoán hoặc xác định không phù hợp thực tế thì cơ quan thuế có thẩm quyền ấn định doanh thu tính thuế khoán theo quy định của pháp luật về quản lý thuế”(điểm a khoản 2 Điều 2).

Căn cứ tính thuế đối với cá nhân nộp thuế khoán được quy định tại điều 2, khoản 2 điểm b Thông tư 92/2015/TT-BTC, như sau:“(b) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu: (b.1) Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu gồm tỷ lệ thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với từng lĩnh vực ngành nghề như sau: Phân phối, cung cấp hàng hóa: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 1%; tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 0,5%; Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%; Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 3%; tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%; Hoạt động kinh doanh khác: tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 2%; tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1%”.

Căn cứ quy định trên thì: Nếu tiền thuê khoán nhân công trong năm của nhóm người lao động do đội trưởng làm đại diện, dưới 100 triệu đồng/ năm, thì không phải kê khai nộp thuế. Đội trưởng có thể thay mặt nhóm người lao động của mình để nhận tiền thuê khoán của người sử dụng lao động. người sử dụng lao động khấu trừ thuế của đội trưởng, trước khi chi trả (Cơ quan thuế hiên nay không cấp hóa đơn lẻ cho những trường hợp cá nhân mua hóa đơn). Thuế được tính trên tổng giá trị hợp đồng thuê khoán với ” tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%”.

Như vậy, đối với trường hợp không mua hóa đơn ở cơ quan thuế, thì trước khi chi trả tiền cho đội trưởng thì người sử dụng lao động sẽ khấu trừ tại nguồn là 7% trên tổng số tiền chi trả.

Quy định về bảo hiểm cụ thể như sau:

    Với hợp đông lao động thời vụ có thời hạn nhỏ hơn < 03 tháng:  không phải đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động. Tuy nhiên từ ngày 01/01/2018 người lao động phải bắt buộc đóng bảo hiểm, áp dụng với cả lao động thời vụ dưới 3 tháng.
    Thời hạn của hợp đồng thời vụ tối thiểu là 03 tháng: Quy định với hợp đồng lao động theo mùa vụ có thời hạn từ 3 tháng đến dưới 12 tháng thì người lao động bắt buộc phải tham gia BHXH, BHYT, BHTN

Quy định về thuế TNCN với hợp đồng thời vụ

Nếu tổ chức và cá nhân trả tiền công và những khoản chi trả khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động (theo hướng dẫn tại điểm c, d, khoản 2, Điều 2 Thông tư này) hoặc những trường hợp doanh nghiệp ký hợp đồng thời vụ nhỏ hơn  ba (03) tháng tháng có tổng mức trả thu nhập từ hai triệu (2.000.000) đồng/lần trở lên thì người lao động phải khấu trừ thuế đúng theo định mức 10 %   trên thu nhập trước khi trả cho cá nhân.

– Trường hợp mà

Tại sao là chúng tôi?

Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp Cho thuê lao động uy tín chuyên nghiệp